Điều kiện xác định chi phí được trừ khi tính TNCT và khấu trừ thuế GTGT

Công văn số 4619/TCT-CS

V/v chính sách thuế GTGT

Kính gửi: Công ty cổ phần Đầu tư Đường ven biển Hải Phòng
(Địa chỉ: Km7 Phạm Văn Đồng, P.Hòa Nghĩa, Q.Dương Kinh, TP.Hải Phòng)

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 10175/VPCP-ĐMDN ngày 18/10/2018 của Văn phòng Chính phủ chuyển kiến nghị của Công ty cổ phần Đầu tư Đường ven biển Hải Phòng, thành phố Hải Phòng về:

– Chi phí thực hiện dự án và

– Thuế GTGT được khấu trừ

Về vấn đề này, TCT có ý kiến như sau:

Tại Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của BTC có hướng dẫn:

“Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định TNCT:

1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế GTGT.

Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên ghi trên hóa đơn mà đến thời điểm ghi nhận chi phí, doanh nghiệp chưa thanh toán và chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Trường hợp khi thanh toán doanh nghiệp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm chi phí đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính có phát sinh khoản chi phí này)…”.

Tại Khoản 2.22, Điều 6, Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của BTC có hướng dẫn:

“2.22. …Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành TSCĐ của doanh nghiệp mới thành lập, chưa đi vào hoạt động, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh toán:

– Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ để thực hiện đầu tư xây dựng

– Chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi đánh giá lại các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính

được phản ánh lũy kế, riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán.

Khi TSCĐ hoàn thành đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng thì chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng (sau khi bù trừ số chênh lệch tăng và chênh lệch giảm) được phân bổ dần vào:

– Doanh thu hoạt động tài chính hoặc

– Chi phí tài chính

thời gian phân bổ không quá 5 năm kể từ khi công trình đưa vào hoạt động…”.

Tại Khoản 2.32, Điều 6, Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của BTC có hướng dẫn:

“2.32. Chi về đầu tư XDCB trong giai đoạn đầu tư để hình thành TSCĐ.

Khi bắt đầu hoạt động SXKD, doanh nghiệp chưa phát sinh doanh thu nhưng có phát sinh các khoản chi thường xuyên để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (không phải là các khoản chi đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định) mà các khoản chi này đáp ứng các điều kiện theo quy định thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Trường hợp trong giai đoạn đầu tư, doanh nghiệp có phát sinh khoản chi trả tiền vay thì khoản chi này được tính vào giá trị đầu tư. Trường hợp trong giai đoạn đầu tư, doanh nghiệp phát sinh cả khoản:

– Chi trả lãi tiền vay và

– Thu từ lãi tiền gửi

thì được bù trừ giữa khoản chi trả lãi tiền vay và thu từ lãi tiền gửi. Sau khi bù trừ phần chênh lệch còn lại ghi giảm giá trị đầu tư”.

Tại Điều 10 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế giá trị gia tăng (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 9 Điều 3 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ) quy định như sau:

“2. Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư:

– Đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ hoặc – Dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động

Nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm. Trường hợp, nếu số thuế GTGT tăng lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.

Trường hợp dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

– Thanh tra

– Kiểm tra

– Kiểm toán

thì cơ quan thuế có thể sử dụng kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để quyết định việc hoàn thuế GTGT và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.”

Tại Điểm b Khoản 12 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng quy định như sau:

“12. Cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào dưới hình thức ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác mà hóa đơn mang tên tổ chức, cá nhân được ủy quyền bao gồm các trường hợp sau đây:

b) Trước khi thành lập doanh nghiệp, các sáng lập viên có văn bản ủy quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện chi hộ một số khoản chi phí liên quan đến việc:

Thành lập doanh nghiệp

– Mua sắm hàng hóa, vật tư

thì doanh nghiệp được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo hóa đơn GTGT đứng tên tổ chức, cá nhân được ủy quyền và phải thực hiện thanh toán cho tổ chức, cá nhân được ủy quyền qua ngân hàng đối với những hóa đơn có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên.”

– Tại Khoản 3 Điều 15 TT số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và

– NĐ số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT(đã được sửa đổi, bổ sung tại TT số 173/2016/TT-BTC) quy định như sau:

“Điều 15. Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào

1. – Có hóa đơn GTGT hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc

– Chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc

– Chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của BTC

áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm:

– Chứng từ thanh toán qua ngân hàng và

– Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác

hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.

…”

Đề nghị Công ty cổ phần Đầu tư ven biển Hải Phòng căn cứ các quy định, hướng dẫn nêu trên và liên hệ với cơ quan thuế địa phương trực tiếp quản lý để thực hiện theo đúng quy định.

Tổng cục Thuế có ý kiến để Công ty cổ phần Đầu tư Đường ven biển Hải Phòng được biết./.

 

Chúc các bạn thành công!

Tìm hiểu thêm về kế toán, kiểm toán, thuế tại congtyketoan.vn hoặc kiemtoan.club