Hướng dẫn về hoàn thuế giá trị gia tăng hàng xuất khẩu

Công văn số: 3411/TCT-KK V/v hoàn thuế giá trị gia tăng hàng xuất khẩu

Kính gửi: Công ty TNHH Dừa Định Phú Mỹ
(Lô A2/15 KCM Giao Long, An Phước, Châu Thành, Bến Tre)

 

Trả lời Công văn số 02/07/2014-CV ngày 07/7/2014 của Công ty TNHH Dừa Định Phú Mỹ vướng mắc về hoàn thuế giá trị gia tăng hàng xuất khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ Điều 16 Mục 1 Chương III Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng:

“Điều 16. Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (trừ các trường hợp hướng dẫn Điều 17 Thông tư này) để được khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT đầu vào phải có đủ điều kiện và các thủ tục nêu tại khoản 2 Điều 9 và khoản 1 Điều 15 Thông tư này, cụ thể như sau:

1. Hợp đồng bán hàng hóa, gia công hàng hóa (đối với trường hợp gia công hàng hóa), cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài.

2. Tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu đã làm xong thủ tục hải quan theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

3. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng

b) Các trường hợp thanh toán dưới đây cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng:

b.3) Trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán thì việc thanh toán theo ủy quyền phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng – nếu có).

b.9) Trường hợp phía nước ngoài thanh toán qua ngân hàng nhưng chứng từ thanh toán qua ngân hàng không đúng tên ngân hàng phải thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng, nếu nội dung chứng từ thể hiện rõ tên người thanh toán, tên người thụ hưởng, số hợp đồng xuất khẩu, giá trị thanh toán phù hợp với hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết thì được chấp nhận là chứng từ thanh toán hợp lệ.

Căn cứ hướng dẫn trên, trường hợp Công ty TNHH Dừa Định Phú Mỹ có xuất khẩu lô hàng cho khách hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ, khi hàng đến cảng của Thổ Nhĩ Kỳ (chưa làm chứng từ nhập) thì khách hàng từ chối nhận hàng và Công ty chuyển lô hàng từ Thổ Nhĩ Kỳ bán cho khách hàng mới tại Ai Cập, căn cứ theo Hợp đồng bán hàng, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, hồ sơ hải quan thì chứng từ thanh toán qua ngân hàng của lô hàng trên gồm 02 chứng từ. Tuy nhiên, một chứng từ tên người chuyển tiền không đúng với tên người mua hàng trong hợp đồng bán hàng, một chứng từ không đúng tên ngân hàng phải thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng bán hàng, đồng thời tổng giá trị thanh toán không khớp với giá trị trên hợp đồng là không đáp ứng được điều kiện khấu trừ, hoàn thuế theo Điều 16 Mục 1 Chương III Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính. Do vậy, Công ty không đủ điều kiện khấu trừ; hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa xuất khẩu trên.

Tổng cục Thuế trả lời để Công ty TNHH Dừa Định Phú Mỹ được biết.

 

Chúc các bạn thành công!
Tìm hiểu thêm về kế toán, kiểm toán, thuế tại congtyketoan.vn hoặc kiemtoan.club