Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

Công văn số 2496/TCT-CS

V/v thuế GTGT

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trả lời công văn số 1675/CT-Ktr2 ngày 08/03/2018 của Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc hoàn thuế giá trị gia tăng của Công ty Cổ phần Hải Việt;

Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại khoản 3 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung Điều 13 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT số 31/2013/QH13 quy định

Về việc hoàn thuế GTGT như sau:

“…

2. Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý,

trừ trường hợp

– Hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật hải quan.

Thực hiện

+ Hoàn thuế trước,

+ Kiểm tra sau

đối với NNT SX hàng hóa xuất khẩu không vi phạm pháp luật về thuế, hải quan trong thời gian hai năm liên tục;

– NNT không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật quản lý thuế.”

Tại Điều 12 Luật thuế GTGT hợp nhất quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào như sau:

“1. Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào như sau:

b) Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho

– Sản xuất,

– Kinh doanh hàng hóa,

– Dịch vụ chịu thuế 

– Không chịu thuế

thì chỉ được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của

+ Hàng hóa,

+ Dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra;

2. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:

a)

– Có hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ 

– Chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu;

b)

Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với

– Hàng hóa,

– Dịch vụ mua vào,

trừ hàng hóa, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng;

c) Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này còn phải có:

– Hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về

+ Việc bán, gia công hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

+ Hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ;

+ Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt;

+ Tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu.

Việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu dưới hình thức thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước được coi là thanh toán không dùng tiền mặt.”

Tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính

Hướng dẫn về hoàn thuế GTGT như sau:

“3. Sửa đổi, bổ sung Điều 18 như sau:

4. Hoàn thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

a) Cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý;

trường hợp trong tháng,

quý số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo.

Cơ sở kinh doanh trong tháng/quý

– Vừa có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu,

– Vừa có hàng hóa, dịch vụ bán trong nước

thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng số thuế GTGT đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

Trường hợp không hạch toán riêng được thì

số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ của các kỳ khai thuế giá trị gia tăng tính từ kỳ khai thuế tiếp theo kỳ hoàn thuế liền trước đến kỳ đề nghị hoàn thuế hiện tại.

Số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

(bao gồm số thuế GTGT đầu vào hạch toán riêng được và số thuế GTGT đầu vào được phân bổ theo tỷ lệ nêu trên)

nếu sau khi bù trừ với số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong nước còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, số thuế GTGT được hoàn của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu không vượt quá doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nhân (x) với 10%.

…”

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 16 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính) về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

Căn cứ các quy định và hướng dẫn nêu trên, về nguyên tắc:

Cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý; trường hợp trong tháng, quý số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo.

Theo trình bày của Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Ngày 24/02/2012, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có công văn số 912/UBND-VP chấp thuận việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải của

– Công ty Cổ phần Hải Việt và

– Giao Sở Tài nguyên và Môi trường,

– Sở Xây dựng,

UBND thành phố Vũng Tàu có trách nhiệm hướng dẫn Công ty thực hiện các quy định pháp luật về

– Đất đai,

– Xây dựng,

– Môi trường.

Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho đến nay, Công ty Cổ phần Hải Việt

– Không có Giấy phép xây dựng,

– Không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất,

– Không có Hợp đồng thuê đất.

Do đó, đề nghị Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu báo cáo UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc Công ty Cổ phần Hải Việt chưa thực hiện các quy định pháp luật về

– Đất đai,

– Xây dựng,

– Môi trường

đối với công trình xây dựng hệ thống xử lý nước thải nêu trên.

Trên cơ sở ý kiến của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử lý việc hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu của Công ty Cổ phần Hải Việt theo đúng quy định của pháp luật và theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính.

Tổng cục Thuế có ý kiến để Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được biết.

 

Chúc các bạn thành công!

Tìm hiểu thêm về kế toán, kiểm toán, thuế tại congtyketoan.vn hoặc kiemtoan.club