XĐ mức doanh thu phải nộp thuế GTGT, TNCN hộ gia đình, cá nhân KD

Công văn số 451/TCT-TNCN

 Xác định mức doanh thu phải nộp thuế GTGT, TNCN đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh

 

Kính gửi: Cục Thuế Vĩnh Long

 

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 549/CT-THNVDT ngày 15/08/2018 của Cục thuế Vĩnh Long về xác định mức doanh thu phải nộp thuế GTGT, TNCN đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh.

Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

– Tại khoản 7, Điều 2 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định:

“7. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

3. Xác định doanh thu tính thuế từ kinh doanh:

a) Doanh thu tính thuế đối với cá nhân kinh doanh là mức doanh thu khoán được ổn định trong 01 năm.

Trường hợp qua số liệu điều tra xác minh, kiểm tra, thanh tra có căn cứ xác định doanh thu tính thuế thay đổi từ 50% trở lên so với mức doanh thu khoán, cơ quan thuế xác định lại mức doanh thu khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế để áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế.

b) Doanh thu tính thuế đối với cá nhân kinh doanh được XĐ theo quy định của pháp luật về quản lý thuế trên cơ sở số liệu:

– Điều tra,

– Khảo sát,

– Kết quả kiểm tra,

– Thanh tra

về cá nhân kinh doanh và các khoản mục chi phí thực tế để tạo ra doanh thu của cá nhân kinh doanh.”

– Tại khoản 1, Điều 2 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“Điều 2. Phương pháp tính thuế đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán

1. Nguyên tắc áp dụng

b) Đối với cá nhân nộp thuế khoán thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp:

– Thuế GTGT,

– Thuế TNCN

là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân của năm.

Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán kinh doanh không trọn năm (không đủ 12 tháng trong năm dương lịch) bao gồm:

– Cá nhân mới ra kinh doanh,

– Cá nhân kinh doanh thường xuyên theo thời vụ,

– Cá nhân ngừng/nghỉ kinh doanh

thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp:

– Thuế GTGT,

– Thuế TNCN

là doanh thu tính thuế TNCN của một năm (12 tháng); doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế kinh doanh.

Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán đã được cơ quan thuế thông báo số thuế khoán phải nộp, nếu KD không trọn năm thì cá nhân được giảm thuế khoán phải nộp tương ứng với số tháng ngừng/nghỉ kinh doanh trong năm.”

– Tại khoản 4, Điều 6 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“4. Xác định doanh thu và mức thuế khoán

a) Doanh thu tính thuế khoán đối với cá nhân nộp thuế khoán là doanh thu được ổn định trong một năm.

b) …Trường hợp cá nhân kinh doanh không:

– Xác định được doanh thu khoán,

– Nộp hồ sơ khai thuế hoặc doanh thu tính thuế khoán xác định không phù hợp với thực tế kinh doanh

thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

c) Cá nhân nộp thuế khoán trong năm có thay đổi về hoạt động kinh doanh (ngành nghề, quy mô, địa điểm,…) thì phải khai điều chỉnh, bổ sung để cơ quan thuế có cơ sở xác định lại doanh thu khoán, mức thuế khoán và các thông tin khác về cá nhân kinh doanh cho thời gian còn lại của năm tính thuế.

Trường hợp cá nhân kinh doanh không thay đổi về ngành nghề kinh doanh thì cơ quan thuế chỉ xác định lại doanh thu khoán để áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế nếu qua số liệu:

– Xác minh,

– Kiểm tra,

– Thanh tra

có căn cứ xác định doanh thu khoán thay đổi từ 50% trở lên so với mức doanh thu đã khoán.

Trường hợp có thay đổi ngành nghề kinh doanh thì thực hiện điều chỉnh bổ sung theo thực tế của ngành nghề kinh doanh thay đổi.”

Căn cứ các quy định nêu trên, Tổng cục Thuế đồng ý với đề xuất của Cục Thuế, cơ quan thuế thực hiện điều chỉnh mức thuế khoán của năm tính thuế khi doanh thu tăng trên 50% và áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế Vĩnh Long được biết.

Kính gửi: Cục Thuế Vĩnh Long

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 549/CT-THNVDT ngày 15/08/2018 của Cục thuế Vĩnh Long về xác định mức doanh thu phải nộp thuế đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh.

Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

– Tại khoản 7, Điều 2 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định:

“7. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

3. Xác định doanh thu tính thuế từ kinh doanh:

a) Doanh thu tính thuế đối với cá nhân kinh doanh là mức doanh thu khoán được ổn định trong 01 năm.

Trường hợp qua số liệu điều tra xác minh, kiểm tra, thanh tra có căn cứ xác định doanh thu tính thuế thay đổi từ 50% trở lên so với mức doanh thu khoán, cơ quan thuế xác định lại mức doanh thu khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế để áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế.

b) Doanh thu tính thuế đối với cá nhân kinh doanh được xác định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế trên cơ sở số liệu điều tra, khảo sát, kết quả kiểm tra, thanh tra về cá nhân kinh doanh và các khoản mục chi phí thực tế để tạo ra doanh thu của cá nhân kinh doanh.”

– Tại khoản 1, Điều 2 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“Điều 2. Phương pháp tính thuế đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán

1. Nguyên tắc áp dụng

b) Đối với cá nhân nộp thuế khoán thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN là doanh thu tính thuế TNCN của năm.

Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán kinh doanh không trọn năm (không đủ 12 tháng trong năm dương lịch) bao gồm:

– Cá nhân mới ra kinh doanh,

– Cá nhân kinh doanh thường xuyên theo thời vụ,

– Cá nhân ngừng/nghỉ kinh doanh

thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN là:

– Doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân của một năm (12 tháng);

– Doanh thu tính thuế thực tế

để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế kinh doanh.

Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán đã được cơ quan thuế thông báo số thuế khoán phải nộp, nếu kinh doanh không trọn năm thì cá nhân được giảm thuế khoán phải nộp tương ứng với số tháng ngừng/nghỉ kinh doanh trong năm.”

– Tại khoản 4, Điều 6 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“4. Xác định doanh thu và mức thuế khoán

a) Doanh thu tính thuế khoán đối với cá nhân nộp thuế khoán là doanh thu được ổn định trong một năm.

b) …Trường hợp cá nhân kinh doanh không:

– Xác định được doanh thu khoán,

– Nộp hồ sơ khai thuế

– Doanh thu tính thuế khoán xác định không phù hợp với thực tế kinh doanh

thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

c) Cá nhân nộp thuế khoán trong năm có thay đổi về hoạt động kinh doanh (ngành nghề, quy mô, địa điểm,…) thì phải khai điều chỉnh, bổ sung để cơ quan thuế có cơ sở xác định lại doanh thu khoán, mức thuế khoán và các thông tin khác về cá nhân kinh doanh cho thời gian còn lại của năm tính thuế.

Trường hợp cá nhân kinh doanh không thay đổi về ngành nghề kinh doanh thì cơ quan thuế chỉ xác định lại doanh thu khoán để áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế nếu qua số liệu xác minh, kiểm tra, thanh tra có căn cứ xác định doanh thu khoán thay đổi từ 50% trở lên so với mức doanh thu đã khoán.

Trường hợp có thay đổi ngành nghề kinh doanh thì thực hiện điều chỉnh bổ sung theo thực tế của ngành nghề kinh doanh thay đổi.”

Căn cứ các quy định nêu trên, Tổng cục Thuế đồng ý với đề xuất của Cục Thuế, cơ quan thuế thực hiện điều chỉnh mức thuế khoán của năm tính thuế khi doanh thu tăng trên 50% và áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế Vĩnh Long được biết.

Chúc các bạn thành công!

Tìm hiểu thêm về kế toán, kiểm toán, thuế tại congtyketoan.vn hoặc kiemtoan.club